Tăng trưởng ổn định
Theo báo cáo của Tổng Cục Thủy sản, tính đến ngày 31/12/2011, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã sản xuất được 2,4 tỷ con giống và diện tích nuôi đạt 5.430ha, sản lượng đạt gần 1,2 triệu tấn, xuất khẩu hơn 600.000 tấn sản phẩm, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 tỷ USD. So với năm 2010, diện tích nuôi tăng 30ha, sản lượng tăng 50.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu tăng 400 triệu USD.
Năm 2011, ghi nhận sự chuyển biến mạnh mẽ của các doanh nghiệp chế biến, hầu hết đã xây dựng được vùng nguyên liệu riêng, có doanh nghiệp tự chủ nguyên liệu được 60-70 công suất chế biến. Số diện tích nuôi đạt chứng nhận quốc tế tăng, đến nay có khoảng 2.000ha đạt chứng nhận GlobalGAP (chiếm gần 40% tổng diện tích nuôi); điển hình như An Giang 214ha/1160ha đạt 18,5%, Cần Thơ, Vĩnh Long...
Cơ cấu thị trường nhập khẩu cá tra của Việt Nam không có thay đổi nhiều, thị trường nhập khẩu chính vẫn là EU và Mỹ, hai thị trường này chiếm 47% tổng giá trị xuất khẩu cá tra của Việt Nam năm 2011. Thị trường EU giảm 1% so với năm 2010 là do suy thoái kinh tế tại các các quốc gia khu vực đồng tiền chung Châu Âu, còn thị trường Mỹ nhu cầu nhập khẩu cá tra vào Mỹ tăng 87,8% so với năm 2010, nguyên nhân do sản lượng cá da trơn nội địa giảm mạnh do chi phí sản xuất tăng quá cao người nuôi ngừng thả nuôi đẩy giá tăng vọt, trong khi đó thị phần của Trung Quốc giảm mạnh từ 25,1% xuống còn 8%. Thị trường xuất khẩu cá tra có mức tăng trưởng mạnh nhất năm 2011 là Braxin tăng 149%, Ảrập Xêut tăng 48,8%, Trung Quốc và Hồng Kông tăng 29,2%, Mêxicô tăng 26,4%, các thị trường khác tăng 26,5%.
Nỗi lo cũ trong vụ sản xuất mới
Năm 2012, Tổng Cục Thủy sản đề ra kế hoạch sản xuất 2,5-2,6 tỷ con giống cá tra các loại, diện tích nuôi 5.500- 6.000 ha, sản lượng đạt 1,2-1,5 triệu tấn; Kim ngạch xuất khẩu 1,85-2,00 tỷ USD; 100% cơ sở nuôi cá tra được đánh số, đăng ký nuôi cá tra có điều kiện và thực hiện truy xuất nguồn gốc. - Có 60% diện tích nuôi được cấp chứng chỉ tiên tiến (VietGap, Global GAP, SQF1000CM, ASC…)
Theo ông Dương Ngọc Minh, Phó Chủ tịch Vasep, để có 1,3 triệu tấn cá tra thì cần đến 26.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong 10 tháng, ngoài ra người nuôi cá còn phải đầu tư hạ tầng ban đầu 1,5 tỷ đồng/ha. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp và người nuôi cá cần vay vốn để sản xuất cũng gặp khó khăn về tài sản thế chấp, thủ tục vay và lãi suất cao. Khi người nuôi thiếu vốn cho cá ăn thì thời gian nuôi kéo dài giá thành cao.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch Vasep cho rằng muốn nuôi cá đạt hiệu quả cao trước hết phải có con giống tốt, tuy nhiên trong thời gian qua chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển con giống. Hầu hết con giống trên thị trường là do những hộ cá thể cung ứng, chất lương không đồng đều, hao hụt cao. Mặt khác cho đến nay ngành chức năng vẫn chưa kiểm soát tốt giá cả thức ăn, thuốc thủy sản, những chi phí không đáng có phát sinh sẽ làm giảm lợi nhuận của người nuôi.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên, với những tín hiệu tốt từ thị trường, mục tiêu xuất khẩu cá tra đạt 2 tỷ USD trong năm 2012 hoàn toàn khả thi nếu các chính sách hỗ trợ vốn tín dụng, xem xét giảm thuế bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp thủy sản có sử dụng túi PE trong xuất khẩu và cần thiết phải tăng kinh phí xúc tiến thương mại cho ngành thủy sản, bởi vì liên tục trong các năm qua, xuất khẩu thủy sản đều có bước tăng trưởng nhưng kinh phí xúc tiến thương mại cho ngành hàng này giảm từ 80 tỷ đồng năm 2010, 55 tỷ đồng 2011 và 15 tỷ đồng trong năm nay là một nghịch lý.
Bộ Trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Trưởng Ban chỉ đạo sản xuất tiêu thụ cá tra, nhận xét, năm 2011, sản lượng xuất khẩu chỉ tăng 3% nhưng kim ngạch tăng 26,5% đồng nghĩa giá bán đã tăng hơn 23%; 30% diện tích vùng nuôi đạt các chứng chỉ VietGap, Global GAP, SQF1000CM, ASC…70% diện tích ao nuôi đã có liên kết với nhà máy chế biến là một thành công đáng biểu dương. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận hiệu quả người nuôi cá đạt được chưa cao, có khi còn bị lỗ, cơ cấu sản phẩm chỉ có 0,8% là mặt hàng có giá trị gia tăng cao. Sản phẩm cá tra xuất khẩu trong năm 2011 vẫn chủ yếu là hàng cá philê đông lạnh, với giá trị xuất khẩu mặt hàng này đạt 1,79 tỷ USD chiếm tới 99%. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá lẫn nhau vẫn còn xảy ra.
Bộ trưởng Phát cho biết, để nâng cao hiệu quả sản xuất cho ngành hàng này cần thiết phải tiến hành 4 nhóm giải pháp: Thứ nhất là nâng cao chất lượng cá nguyên liệu, đa dạng sản phẩm, chú trọng nâng cao giá trị từ sản phẩm giá trị gia tăng; Thứ hai là các địa phương cần nắm lại nhu cầu vốn phục vụ cho sản xuất để kiến nghị Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù cho ngành hàng này; Thứ ba, tăng cường quản lý nhà nước về vệ sinh môi trường vùng nuôi vật tư đầu vào; Thứ tư là phải làm tốt hơn công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, thông tin dự báo và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp khi có xảy ra tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế.







